Vantech - More Than A Guarantee

Không như các thiết bị VCR(Video Cassette Recorder), DVR có nhiều ưu điểm hơn, cũng có thể hoạt động và quan sát từ xa tại bất cứ nơi nào trên thế giới qua Internet. Một DVR - Thiết bị ghi hình kĩ thuật số, khác với VCD ở những điểm sau:

 

Ngoài khả năng ghi hình và tiếng lên băng từ, DVR còn có thể ghi lên ổ cứng máy tính hoặc các thiết bị lưu dữ liệu khác như CD, DVD. Do đó:

 

  • Thuận tiện hơn,

 

  • Ghi với thời lượng lâu hơn,

 

  • Chất lượng ghi tốt hơn,

 

  • Hoàn toàn tự động.

 

Hình ảnh và âm thanh chứa trong DVR :

 

  • Truy cập nhanh chóng,

 

  • Quan sát và ghi lại tại chỗ hay từ xa qua Internet.

 

  • Cùng một lúc có thể nhiều người quan sát được.

 

  • Có thể dùng trong hệ thống cảnh báo, báo động.

 

PC hay không PC?

 

Có 2 loại DVR. DVR trên cơ sở máy tính (PC base DVR) và DVR độc lập (non PC base DVR). Cả 2 loại này cùng có chức năng có thể truy nhập qua Internet.

 

Các câu hỏi thông thường nhất là: Vậy thì tôi cầncái PC base DVR hay non PC base DVR?

 

Ngày nay, chức năng của PC base DVR và non PC base DVR gần như là hoàn toàn tương tự.

 

Nếu bạn đang dùng 1 DVR 4 kênh, bạn hoàn toàn có thế kéo dài thành 64 kênh bằng cách nối thêm các DVR khác có khả năng giao tiếp với DVR đó.

 

Chú ý rằng khi sử dụng từ “kênh”, là dùng với đầu vào là các Camera hay ghi âm. Do đó 64 kênh, nghĩa là có thế lên tới 64 Camera. Điều đó không có nghĩa là bạn phải sử dụng tất cả 64 Camera ngay lúc này, mà hoàn toàn có thể ghép nối thêm cho đến 64 Camera nếu cần thiết sau này.

 

Các DVR có thể được tổ chức sao cho hạn chế ảnh hưởng của lỗi có thể xảy ra (loại RAID5) thường được dùng trong các Casino, toà án, văn phòng chính phủ hay các nhiệm vụ đặc biệt khác. Một RAID5 là một DVR với nhiều ổ đĩa cứng, do đó nếu một ổ đĩa bị hỏng thì bạn sẽ không mất dữ liệu. Hệ thống RAID5 rất đắt tiền, có thể giá tăng gấp 3 -5 lần bình thường.

 

Một DVR non PC thì “cố định” về số lượng các kênh. Vì bạn sử dụng một PC có cắm DVR card. Bạn cũng có thể giải quyết vấn đề này bằng cách dùng cắm thêm Card DVR vào máy nhưng số khe cắm trên mỗi máy tính cũng là cố định. Hoặc dùng thêm một máy khác, hoặc các thiết bị điều khiển khác.

 

Trong môi trường khắc nghiệt, DVR đóng hộp có thể tốt hơn. Các PC truyền thống rất nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ bụi bẩn, sóng Viba,vv.

 

Thắc mắc của khách hàng?

 

Khách hàng thường là những người không có nhiều kinh nghiệm về DVR, nên sau khi mua hàng, họ thường than phiền khi:

 

  • Chất lượng ghi hình không tốt hoặc mất dữ liệu.

 

  • Tốc độ ghi hình và hiển thị không như giới thiệu

 

  • Thời lượng lưu trữ ít hơn nhiều so với giới thiệu.

 

  • Các chức năng của DVR không đầy đủ như giới thiệu.

 

  • DVR quá nóng.

 

Bạn mua hệ thống thứ 2 của một công ty khác, và nó không tương thích với hệ thống cũ.

 

Không thể điều khiển DVR từ xa như bạn nghĩ.

 

Bạn chưa từng thấy truyền hình ảnh qua Internet trước khi bạn mua nó và bạn thấy rằng chất lượng truyền là rất không tốt.

 

Thực ra thì một hệ thống gồm rất nhiều thành phần, hoạt động của mỗi thành phần đều ảnh hưởng đến hoạt động chung của cả hệ thống đó. Do đó, một hoặc một vài thiết bị không thể phát huy hết công suất của mình cũng là điều dễ hiểu.

 

Chú ý rằng tốc độ của hệ thống chỉ đạt được tối đa bằng tốc độ của phần tử chậm nhất trong hệ thống đó.

 

Sự khác nhau giữa DVR card?

 

Trung tâm của bất cứ một DVR nào là một cạc xử lí đồ hoạ. được biết đến như là bo mạch DVR, cạc, hoặc ghi hình. Bộ phận này quan trọng hơn tất cả, nó sẽ xác định năng suất và chất lượng của cả hệ thống. Cạc xử lí đồ hoạ là một mạch cứng có nạp sẵn phần mềm xử lí, có chức năng nén, xử lí, và giải nén dữ liệu hình ảnh nhận được.

 

Chia sẻ tài nguyên?

 

Nhu cầu chia sẻ tại nguyên xuất hiện khi máy tính hoạt động với nhiều chức năng cùng một lúc. Càng phải chia sẻ nhiều tài nguyên thì tốc độ xử lí của máy tính càng chậm. Có thể dẫn đến lỗi hệ thống. Thường thì với DVR card xử lí dữ liệu (nén, xử lí và giải nén, hình ảnh) có tận dụng tại nguyên máy tính, chúng sử dụng rất nhiều tài nguyên, và dẫn đến tốc độ xử lí chậm hơn rất nhiều so với các loại DVR rời khác.

 

Khung / Hình trên giây?

 

Tốc độ ghi hình (frames per second : fps) với 30 khung hình trên giây được gọi là thời gian thực, di chuyển thực. Trong Video thông thường NTSC chỉ là 24 khung hình trên giây. Có khái niệm (fields per second cũng là fps), tuy nhiên 1 farme bằng với 2 field (trường). Do đó 30 (frames per second) bằng với 60 (fields per second). Khái niệm hình trên giây (images per second) cũng tương tự như (fields per second).

 

Chú ý rằng, chỉ với tốc độ ghi hình 5 hình trên giây, bạn đã thu thập được rất nhiều thông tin rồi. Trong xử lí hình ảnh, với tốc độ ghi hình càng cao, số thông tin cần xử lí càng lớn thì càng tốn nhiều tài nguyên hệ thống. Và cả bộ nhớ lưu trữ cũng cần nhiều hơn.

 

Khả năng xử lí hình ảnh cũng tạo nên sự khác nhau về chất lượng cũng như giá thành giữa các DVR.

 

Lượng dữ liệu?

 

1 file là một gói dữ liệu. Kích thước file thể hiện có bao nhiêu dữ liệu chứa trong nó.

 

Kích thước file ảnh có liên quan đến, độ phân giải (resolution), chuyển động, dạng nén, và các nhân tố khác nữa. Cuối cùng thì file sẽ được chứa trong ổ đĩa cứng của DVR.

 

Nếu hệ số nén càng cao thì kích thước file càng nhỏ. Khi file càng nhỏ thì tốc độ truyền càng nhanh và tốn ít bộ nhớ để lưu trữ, nhưng hình ảnh lại không rõ nét.

 

Công nghệ mới cho phép có nhiều cách để nén được dữ liệu mà vẫn đảm bảo được chất lượng dữ liệu đạt yêu cầu. Một DVR có độ phân giải tốt có khả năng hiển thị, ghi hình và truyền dữ liệu độc lập với nhau. Khi đó bạn vừa có thể ghi hình với chất lượng cao, và vừa có thể truyền dữ liệu, mục đích là không để lỗi mạng và có hình ảnh nét hơn.

 

Điểm thuận lợi trong các hệ thống DVR là bạn có thể điều khiển độc lập trên từng kênh về:

 

  • Độ phân giải

 

  • Tốc độ truyền

 

  • Tốc độ ghi dữ liệu,

 

  • Tốc độ hiển thị,

 

  • Phát hiện chuyển động.

 

Chuẩn nén tín hiệu số?

 

Nén được thực hiện khi luồng dữ liệu vào được phân tích và loại bỏ bớt những phần dữ liệu không cần thiết.

 

Có 3 kiểu nén là : phần cứng và phần mềm. Có cả chức năng nén và giải nén.

 

Nén là thu gọn lại dữ liệu, truyền, và lưu trữ. Còn giải nén là hiển thị lại dữ liệu đã được ghi.

 

Khi sử dụng công cụ nén bằng phần cứng thì chỉ mất ít dữ liệu, và tất cả công việc nén được thực hiện hoàn toàn trên mạch phần cứng có chức năng đặc biệt.

 

Khi sử dụng công cụ nén bằng phần mềm thì yêu cầu sử dụng tại nguyên máy tính phục vụ chức năng này.

 

Chuẩn nén tín hiệu số gồm có các chuẩn sau:

 

Chuẩn MJPEG:

 

Đây là một trong những chuẩn cổ nhất mà hiện nay vẫn sử dụng. MJPEG (Morgan JPEG). Chuẩn này hiện chỉ sử dụng trong các thiết bị DVR rẻ tiền, chất lượng thấp. Không những chất lượng hình ảnh kém, tốn tài nguyên xử lí, cần nhiều dung lượng ổ chứa, và còn hay làm lỗi đường truyền.

 

Chuẩn MPEG2:

 

Chuẩn MPEG là một chuẩn thông dụng. Đã được sử dụng rộng rãi trong hơn một thập kỉ qua. Tuy nhiên, kích thước fle lớn so với những chuẩn mới xuất hiện gần đây, và có thể gây khó khăn cho việc truyền dữ liệu.

 

Ví dụ như trong MPEG-2, nơi mà nội dung được tạo ra từ nhiều nguồn như video ảnh động, đồ họa, văn bản… và được tổ hợp thành chuỗi các khung hình phẳng, mỗi khung hình (bao gồm các đối tượng như người, đồ vật, âm thanh, nền khung hình…) được chia thành các phần tử ảnh pixels và xử lý đồng thời, giống như cảm nhận của con người thông qua các giác quan trong thực tế. Các pixels này được mã hoá như thể tất cả chúng đều là các phần tử ảnh video ảnh động. Tại phía thu của người sử dụng, quá trình giải mã diễn ra ngược với quá trình mã hoá không khó khăn. Vì vậy có thể coi MPEG-2là một công cụ hiển thị tĩnh, và nếu một nhà truyền thông truyền phát lại chương trình của một nhà truyền thông khác về một sự kiện, thì logo của nhà sản xuất chương trình này không thể loại bỏ được. Với MPEG-2, bạn có thể bổ xung thêm các phần tử đồ hoạ và văn bản vào chương trình hiển thị cuối cùng (theo phương thức chồng lớp), nhưng không thể xoá bớt các đồ hoạ và văn bản có trong chương trình gốc.

 

Chuẩn MPEG4:

 

Mpeg-4 là chuẩn cho các ứng dụng MultiMedia. Mpeg-4 trở thành một tiêu chuẩn cho nén ảnh kỹ thuật truyền hình số, các ứng dụng về đồ hoạ và Video tương tác hai chiều (Games, Videoconferencing) và các ứng dụng Multimedia tương tác hai chiều (World Wide Web hoặc các ứng dụng nhằm phân phát dữ liệu Video như truyền hình cáp, Internet Video...). Mpeg-4 đã trở thành một tiêu chuẩn công nghệ trong quá trình sản xuất, phân phối và truy cập vào các hệ thống Video. Nó đã góp phần giải quyết vấn đề về dung lượng cho các thiết bị lưu trữ, giải quyết vấn đề về băng thông của đường truyền tín hiệu Video hoặc kết hợp cả hai vấn đề trên.

 

Với MPEG-4, các đối tượng khác nhau trong một khung hình có thể được mô tả, mã hoá và truyền đi một cách riêng biệt đến bộ giải mã trong các dòng cơ bản ES (Elementary Stream) khác nhau. Cũng nhờ xác định, tách và xử lý riêng các đối tượng (như nhạc nền, âm thanh xa gần, đồ vật, đối tượng ảnh video như con người hay động vật, nền khung hình …), nên người sử dụng có thể loại bỏ riêng từng đối tượng khỏi khuôn hình. Sự tổ hợp lại thành khung hình chỉ được thực hiện sau khi giải mã các đối tượng này.

 

Chuẩn H 2.64

 

Chuẩn H 2.64AVC, cũng được biết đến như là chuẩn MPEG 10, nổi lên dẫn đầu trong lĩnh vực công nghệ nén hình ảnh. H 2.64 cũng cho chất lượng hình ảnh tốt nhất, kích thước file nhỏ nhất, hổ trợ DVD, vàtruyền với tốc độ cao so với các chuẩn trước đó.H 2.64 cũng là một chuẩn phức hợp.